|
|
Nhạc sĩ Anh Bằng đã mở đầu cho một bài hát thời danh của ông bằng câu:
Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu.
Bao nhiêu mộng đẹp, yêu đương thành khói tan trong mây chiều.
Tôi cho rằng 18 tuổi mới vừa biết yêu thì có lẽ hơi chậm đấy nhé ! Tôi bắt đầu để ý và thích người khác phái khi còn rất trẻ, từ những năm cuối của bậc tiểu học - trẻ hơn Anh Bằng rất nhiều. Yêu dễ dàng cũng như quên dễ dàng. Tình yêu như hơi thở, như bóng mây ở tuổi ô mai. Nó đến rồi đi vào quên lãng. Tình yêu ở tuổi ấy, thực ra, khó có thể gọi là tình yêu mà chỉ là một mê say, đắm đuối thật dễ dàng khi gập một người con gái đẹp, dễ thương - một tình yêu một chiều.
Tôi được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Khoảng đầu năm 1952, nhà tôi rời về khu Hàng Than, gần cạnh ngay Đê Yên Phụ. Được ít lâu, tôi khám phá ra cô ca sĩ Tuyết Minh của Đài Phát Thanh Hà Nội cũng cư ngụ cùng phố, ngay gần nhà tôi. Cô là láng giềng của tôi Hồi đó chưa có cassette, video hay những buổi văn nghệ, đại nhạc hội như sau này nên các ca sĩ chỉ hát trên đài phát thanh. Ở Hà Nội, vào lúc đó, chỉ có hai (2) đài phát thanh : đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Con Nhạn ( hình như đài này của Quân Đội ). Ca Sĩ nổi tiếng hát hay có thể đếm được trên đầu ngón tay như các nữ ca sĩ Minh Đỗ, Thanh Hằng, Tâm Vấn và Tuyết Minh, hay các nam ca sĩ Quách Đàm, Canh Thân, Thanh Hiếu. Tôi thực sự mê cô Tuyết Minh, say mê tiếng hát của cô. Tôi hay lảng vảng gần nhà cô trước giờ cô đi làm để được nhìn trộm cô lúc cô rời nhà. Lúc đó đối với tôi cô là tất cả : vừa đẹp vừa hát hay. Cô và nam ca sĩ Thanh Hiếu có hợp ca vài bài hát trong số đó có bài Bình Minh Ca Khúc của Võ Đức Thu. Bài song ca được thu vào đĩa và lâu lâu được phát thanh lại. Mỗi khi bài hát được đài cho phát thanh lại, tôi tắt radio, không thèm nghe hai người song ca. Tôi đâm ra thù ghét nam ca sĩ Thanh Hiếu, ghét cay ghét đắng. Sao anh ta dám đứng cạnh và hát với Tuyết Minh? Chỉ tưởng tượng ra cảnh hai người tình tứ đứng hát bên nhau, tôi cũng điên tiết lên. Cuối năm 1953, Tuyết Minh rời Hà Nội, vào Nam để lập gia đình. Khi biết chồng của cô không phải là nam ca sĩ Thanh Hiếu, tôi mừng vô tả, như trút được nỗi lo âu canh cánh bên lòng. Nhưng chỉ một khoảng thời gian ngắn sau đó, tôi quên hẳn cô Tuyết Minh. Trong tâm tư của tôi không còn mảy may dấu vết nào của cô. Vĩnh biệt một tình yêu hay – hình như là tình yêu- ở tuổi miệng còn hơi sữa !
Cô láng giềng thục sự trở thành cô bạn tâm giao của tôi là Hảo-Vũ Thị Hảo- ở ngay cạnh nhà tôi. Nhà tôi số 57 đường Nguyễn Trường Tộ, nhà Hảo số 55. Hảo nhỏ tuổi hơn tôi, chắc độ một vài tuổi, vì anh của Hảo học chung lớp với tôi ở trường Tiểu Học Hàng Than. Không hiểu sao Hảo lại có cảm tình với tôi ngay từ những ngày đầu hai đứa mới quen nhau. Tôi chú ý đến Hảo vì Hảo có đôi mắt bố câu đen lay láy. Hảo luôn có mặt trong bất kỳ một trò chơi nào của tôi với anh của Hảo và lũ trẻ hàng xóm : đánh khăng; chơi đi trốn đi tìm ; lên Đê Yên Phụ thả diều hay đổ nước bắt dế; đạp xe tới Nghi Tàm Quảng Bá để trèo cây hái ổi, tắm hồ; trèo cây hái quả sấu ở Vườn hoa Hàng Đậu, sấu rất chua, nhưng lúc đó chúng tôi thấy quả sấu chấm muối ăn ngon lạ lùng…..Hảo luôn luôn nhỏ nhẹ, dịu dàng đối với tôi. Tôi đã đưa em đi xem chiếu bóng tại rạp Lửa Hồng ở phố Hàng Trống. Rạp này do các Hướng Đạo Sinh quản lý nên giá vé rất rẻ. Những buổi đi chơi ở đường Cổ Ngư, Hồ Tây,Vườn Bách Thảo với em ….là những kỷ niệm khó phai mờ trong trí óc của tôi. Đi chơi suông để nói chuyện thôi, chứ đâu có đủ tiền để hai đứa cùng ăn quà như ăn bánh tôm Cổ Ngư. Thỉnh thoảng Hảo rủ tôi ra chơi trước cửa Âm nhạc viện của nhạc sĩ Williams Chấn-cây Hạ Uy Cầm nổi tiếng ở Hà Nội - để nghe tiếng đàn của ông và của các học trò của ông lúc ông dậy học. Cuộc sống của tôi bên Hảo cứ êm đềm trôi; ngày nào cũng là ngày vui. Chúng tôi ríu rít bên nhau như đôi chim non.
Tháng 5 năm 1954, quân Pháp bị đánh bại ở trận Điện Biên Phủ. Việc này đưa đến Hiệp định đình chiến ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ. Đất nước bị chia đôi tại vỹ tuyến số 17: miền Bắc sẽ thuộc về Đảng Cộng Sản của Ông Hồ Chí Minh, người Quốc Gia sẽ dắt díu nhau về miền Nam. Nhiều gia đình sửa soạn di cư vào Nam trong đó có gia đình của tôi. Ông Cụ tôi, anh Cả của tôi đã nếm mùi và hiểu Cộng Sản từ những ngày ở Liên Khu 3, nên quyết định đưa cả gia đình vào Nam đã mau chóng hình thành. Theo Hảo, gia đình em đã quyết định ở lại miền Bắc vì Ba của Hảo lý luận là ông không cầm súng chống lại quân kháng chiến thì không có gì phải sợ cả. Vả lại các kháng chiến quân cũng là người Việt như ông. Ngày gia đình tôi lên xe để xuống Hải Phòng - bước đầu của chặng đường di cư vào Nam-, em đã ra đứng trước cửa nhà, mặt buồn thiu, im lặng nhìn chúng tôi sửa soạn xếp hành trang lên xe. Tôi chỉ nhỏ nhẹ an ủi em và hứa sẽ gập lại em sau hai năm tức là sau kỳ tổng tuyển cử để thống nhất đất nước theo đúng hiệp định Genève đã qui định.
Tôi lớn lên ở Sàigòn, bận bịu vì chuyện học hành thi cử nhưng thỉnh thoảng tâm tư lại hướng về Hảo. Không biết bây giờ em ra sao? Tổng tuyển cử không xẩy ra năm 1956. Cả miền Nam lại rơi vào vùng lửa đạn tàn khốc gây ra bởi chủ trương Cộng Sản hóa miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt. Miền Bắc cũng bị bom đạn tàn phá nặng nề. Trong những cơn khói lửa đổ xuống miền Bắc, tôi luôn luôn cầu nguyện cho gia đình em được an bình.
Năm 1975, chiến tranh chấm dứt nhưng cũng là năm tôi và gia đình rời quê hương, bắt đầu cuộc đời lưu vong tại một nơi cách quê nhà nửa vòng trái đất. Cuộc sống ở xứ người cũng nhiều vất vả. Gia đình tôi phải mất vài năm mới quen với cuộc sống mới nơi xứ sở mới.
Từ cuối thập niên 90, sau khi nhận ra người Việt Hải Ngoại về thăm quê hương là một nguồn dollars rất lớn, Chánh Phủ của Cộng Sản Việt Nam đã cho phép người Việt ở khắp nơi về thăm quê hương. Theo làn sóng người về thăm lại quê nhà, năm 2005 tôi trở về thăm lại Hà Nội, nơi tôi đã sống và lớn lên, hy vọng gập lại cô bạn nhỏ bé của ngày nào. Sau khi thăm lại vài địa danh quen thuộc, tôi đi đến khu Hàng Than, tìm lại căn nhà mà gia đình Hảo đã cư ngụ khi xưa, ngay cạnh căn nhà mà tôi đã sống, trước khi theo gia đình di cư vào Nam. Nhà Hảo vẫn cũ kỹ như xưa, không sơn sửa có lẽ từ mấy chục năm nay. Trong nhà có vài gia đình trú ngụ. Tôi hỏi thăm, muốn tìm gặp cô Hảo thì được trả lời : Có cô Hảo ở đây, nhưng cô ấy đi chợ, một chốc sẽ về nhà. Tôi im lặng đứng chờ, thầm mong đó chính thực là Hảo, Vũ Thị Hảo, của hơn 50 năm về trước. Cả một quá khứ xa vời hiện về trong trí của tôi. Những người hàng xóm ngày xưa như gia đình ông Hai Nhâm, gia đình ông Tư Vấn, ông Nghị…..không hiểu có còn không? Hơn 50 năm trời rồi, một khoảng thời gian dài như một đời người.
Tiếng gọi : Này ông ơi, cô Hảo đã về. Cô Hảo ơi có một ông, hình như là một Việt Kiều đến tìm cô - kéo tôi về thực tại.
Tôi vội bước trở lại trước căn nhà của gia đình Hảo ngày nào. Trước mặt tôi là một bà già nhỏ bé, tóc bạc, da dẻ nhăn nheo nhưng tôi nhận ra ngay chính là Hảo khi nhìn vào đôi mắt - vẫn đôi mắt bồ câu tinh anh của ngày xưa.
- Hảo còn nhớ tôi không ? Thành đây mà, Thành ở cạnh nhà Hảo hồi xưa.
Hảo trầm ngâm dây lát, như để suy nghĩ tìm về quá khứ của hơn năm mươi năm về trước. Nàng chợt reo lên :
- Nhớ ra rồi, Thành ở số 57; năm 1954 đi vào Nam. Nhớ rồi ! nhớ rồi !
Vẫn âm hưởng của giọng nói của mấy chục năm về trước. Hảo mời tôi bước vào nhà để tiếp tục nói chuyện. Gọi là ``nhà``, nhưng giang sơn của Hảo chỉ là một căn phòng để vừa làm phòng ngủ vừa làm phòng khách. Căn nhà cũ của gia đình Hảo được chia cho 5 gia đình khác trú ngụ. Nhà bếp được dùng chung cho mọi gia đình. Hảo ở đây một mình từ lâu lắm rồi.
Năm 1954, chỉ vài tuần sau khi Hà Nội tiếp đón những người Cộng Sản đến từ chiến khu Việt Bắc, tai họa đã giáng xuống gia đình Hảo. Ba của Hảo, vì làm thầu cung cấp thực phẩm cho quân đội Pháp, nên bị đánh tư sản rất nặng nề. Ông bị ghép tội đã cộng tác với kẻ thù. Nhà cửa bị tịch thâu, cả gia đình bị đuổi về quê. Các anh chị lớn của Hảo phải bỏ học để đi làm mướn, làm thuê để sống qua ngày. Hảo theo cha mẹ về quê làm ruộng. Tội nghiệp Hảo, mới hơn 10 tuổi đầu, đâu có biết cầm cái cuốc, cái cào đất…. phụ cha mẹ trong việc đồng áng. Tuy vậy, em cũng cố gắng đi mò cua, bắt ốc để phụ giúp gia đình được chút nào hay chút đó. Gia đình em sống bữa đói, bữa no trong nhiều năm. Năm được 18 tuổi, Hảo nhận lời lấy một sĩ quan trong Quân Đội Nhân Dân với hy vọng cuộc sống của em , của gia đình em sẽ đỡ khổ cực hơn. Chồng em đi B, tức là đi vào chiến trường miền Nam, khoảng năm 1966. Vài năm sau, Hảo nhận được giấy báo là chồng Hảo đã hy sinh tại chiến trường Tây Nguyên, không tìm được xác. Em nhận tin, lòng không mảy may xúc động. Sau những khổ ải do chế độ gây ra cho gia đình em và cho em, tình cảm trong tâm em đã thui chột, nước mắt em đã cạn khô. Vì là vợ của một tử sĩ, Hảo được trả lại một căn phòng của căn nhà cũ của Bố Mẹ của em. Đồng thời với tư cách là vợ của một tử sĩ, em kiếm được một việc làm nơi Hợp Tác Xã của khu phố.
Em sống thui thủi một mình từ ngày đó đến nay. Em kể chuyện cho tôi nghe với nhiều cảm xúc, long lanh giọt lệ. Em nhắc đến những tháng ngày trước khi Hà Nội bị những người Bolchevik Việt Nam tiếp thâu – có thể gọi là khoảng thời gian đẹp nhứt trong đời em. Những năm tháng sau đó là cả một địa ngục cho em, cho gia đình em. Em chỉ sống bằng các kỷ niệm đẹp trước năm 1954, trong đó có các kỷ niệm với tôi. Tôi từ giã em, hứa sẽ giữ liên lạc. Tôi buồn man mác khi nghĩ đến những tàn phá mà Cộng Sản Việt Nam mang lại cho tuổi trẻ ở miền Bắc. Cuộc đời của Hảo, cô láng giềng ngày xưa của tôi, là một thí dụ điển hình. Cánh Mạng đã dồn gia đình em xuống địa ngục.
Khoảng năm1962-1963, gia đình tôi dọn về Phú Nhuận. Láng giềng mới của tôi là Nguyễn Thị Quí. Cũng trạc tuổi tôi. Nàng đang học năm cuối cùng ở trường Trung Học Trưng Vương .Với mái tóc dài óng ả, chiếc áo dài trắng bó sát người, dáng đi chậm rải quí phái, trông Quí thực duyên dáng. Biến cố Phật Giáo năm 1963, khiến tôi và Quí thân nhau hơn. Nàng là đệ tử trung kiên của mấy Thầy ở Chùa Xá Lợi. Gần như mỗi ngày, nàng cho tôi biết những tin tức về cuộc đấu tranh của Phật Giáo chống Chánh Phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Dù không phải là một Phật tử, đệ tử của các Thầy, tôi giả bộ chống chánh phủ để được thường xuyên tiếp xúc với nàng. Một hôm, nàng đưa cho tôi một xấp truyền đơn chống chánh phủ, ủng hộ Phật Giáo và bảo tôi đi rải. Tôi chờ đến tối mới mang đống truyền đơn đi rải ở vài căn phố gần nhà. Tôi vừa rải vừa run, chỉ sợ bị Công An bắt. Sau khi rải xong, về đến nhà, tim tôi vẫn đập mạnh vì hồi hộp, lo sợ. Sau đó các truyền đơn được nàng đưa đều đều và bảo tôi đi rải. Thay vì đem đi rải, tôi dấu nàng đem đi đốt hết, thủ tiêu vì nỗi sợ hãi bị Công An bắt đánh nhừ đòn. Không ngờ nàng biết được chuyện tôi đốt hết truyền đơn thay vì đem đi rải vì chị Tư -người làm của nhà tôi- đã nói cho nàng hay trong một lúc vui câu chuyện. Nàng giận tôi, thực sự giận tôi. Suốt một thời gian dài, nàng tránh không gặp tôi cho tới ngày gia đình nàng dọn nhà đi nơi khác, không để lại địa chỉ mới.
Năm 2002, tôi tình cờ gập lại Quí ở Orange County, California. Nàng đã có gia đình, đã tay bồng tay mang. Bùi ngùi nhắc lại chuyện xưa, tôi cho nàng rõ lúc đó tôi quá nhát nên phụ lòng tin tưởng của nàng. Quí cho tôi hay nàng không giận tôi và kết luận tuổi trẻ của chúng tôi đều bị lường gạt. Chúng tôi như những chiếc lá, sớm lìa cành để bị cơn lốc của thời cuộc cuốn đi mà không cưỡng lại được.
Tháng năm trôi qua, tôi đã trưởng thành, bước vào đời. Trong cuộc sống hàng ngày, tôi chung đụng với nhiều người khác phái nhưng với tuổi đời một năm một lớn, cảm nghĩ của tôi về liên hệ nam nữ cũng thay đổi. Tôi đã có nhiều cô láng giềng nhưng tôi không tìm lại được cái cảm giác của những ngày xưa khi tôi tiếp xúc với Hảo,với Quí - những cô láng giềng ngày xưa. Thời gian đã qua, không bao giờ có thể tìm lại được. Làm sao tìm lại được khoảng thời gian đã qua, khoảng thời gian đã mất, trong đời sống của con người?
Montréal 12-2011
|
|